(Chinhphu.vn) – Ý kiến chuyên gia cho rằng cần giới hạn tối đa những "điểm mờ” trong quản lý, bởi “doanh nghiệp không chỉ sạt nghiệp mà còn có thể dính án phạt khi sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng".
TS Nguyễn Đình Cung.

Sáng 13/6, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức hội thảo thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Theo ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM, một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong Nghị quyết 19 là cải cách thủ tục hành chính với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Theo các chuyên gia, hiện thời gian hoàn thành thủ tục thông quan hàng hóa (đối với hàng không phải kiểm dịch) trung bình là 48 giờ - tức là đã đáp ứng chỉ tiêu theo tinh thần Nghị quyết 19. Tuy nhiên với hàng hóa phải kiểm dịch thì chưa đạt yêu cầu.

Đến nay, đã có 11 bộ, ngành; 28 cơ quan, đơn vị liên quan đã kết nối, thực hiện thủ tục liên thông quốc gia, áp dụng công nghệ thông tin hiện đại và 1 cửa ASEAN. Song, số lượng thủ tục thực hiện chưa nhiều so với các thủ tục mà doanh nghiệp đang phải thực hiện.

Ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia dự án của CIEM cho biết, bên cạnh đó, hiện còn có nhiều yêu cầu cải thiện kiểm tra chuyên ngành chưa đạt được như yêu cầu đề ra tại các Nghị quyết 19.

Cụ thể, yêu cầu của Nghị quyết 19 là áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trên cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong kiểm tra chuyên ngành.

Đến nay, đã áp dụng trong lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm, còn các lĩnh vực khác về cơ bản là chưa áp dụng. Cùng với đó, yêu cầu áp dụng chế độ doanh nghiệp ưu tiên cũng chưa có lĩnh vực quản lý kiểm tra chuyên ngành nào áp dụng, ông Bình cho biết.

Ông Bình kiến nghị, nên mặc nhiên công nhận chất lượng của những sản phẩm/hàng hóa có thương hiệu nổi tiếng thế giới, bãi bỏ những khoản thu rất nhỏ mang tính máy móc nhưng làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp, bãi bỏ tình trạng chồng chéo trong quản lý do nhiều cơ quan cùng quản một loại hàng xuất nhập khẩu...

Vấn đề gây bức xúc nhất

Đặc biệt, vị chuyên gia này cũng cho biết các cơ quan chức năng chưa giải quyết căn bản vướng mắc về xác định giá trị, tham vấn xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu.

"Có thể nói đây là vấn đề lớn nhất, gây nhiều phản ứng, bức xúc nhất của doanh nghiệp đối với Hải quan. Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao, ngợi khen những cải cách về thủ tục hải quan thì chê trách hải quan về vấn đề bấy nhiêu", ông nói.

Các doanh nghiệp cũng cho rằng chi phí phục vụ kiểm tra còn lớn trong khi kết quả kiểm tra lô hàng trước lại không được thừa nhận đối với lô hàng cùng loại khác và vẫn phải kiểm tra tiếp tục; gây lãng phí thời gian và tài chính cho doanh nghiệp. Hiện, vẫn có 25% nhóm hàng chịu sự kiểm tra đồng thời của nhiều cơ quan.

Bình luận về ý kiến của ông Phạm Văn Bình, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM nhắc lại nguyên tắc cơ quan Nhà nước chỉ làm những gì luật cho phép. Do đó, khi gặp những vướng mắc, doanh nghiệp, chuyên gia phải tìm kỹ ở các quy định, lấy đó làm cơ sở trao đổi, đấu tranh đến cùng.

"Nếu không làm rõ thì sẽ có những điểm mờ. Mà cơ quan Nhà nước thì ít khi chuyển điểm mờ sang điểm sáng trong quản lý", ông Cung nói và nêu quyết tâm phải đấu tranh đến cùng để xoá bỏ những điểm mù mờ này.

Viện trưởng CIEM nói rằng doanh nghiệp rất sợ những bất định. Do vậy, ông nhấn mạnh cần giới hạn tối đa những "điểm mờ" để doanh nghiệp có thể tiên liệu được những rủi ro vốn không chỉ là tăng chi phí mà còn về mặt pháp lý.

"Doanh nghiệp không chỉ sạt nghiệp mà còn có thể dính án phạt, bởi doanh nghiệp có thể sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng", ông Cung nói.

Vị Viện trưởng cũng đề nghị các cơ quan bãi bỏ thủ tục dán nhãn năng lượng và bình luận rằng cách thức triển khai lâu nay cho thấy việc này không hiệu quả, do đó nên tìm cách thức quản lý khác.

Điển hình tốt chưa được nhân rộng

Cũng theo ông Phạm Thanh Bình, còn nhiều vấn đề có cách hiểu khác nhau, cần được thống nhất, chẳng hạn vấn đề “chỉ sản phẩm, hàng hoá nhóm 2 mới phải công bố hợp quy hay cả những sản phẩm hàng hoá không thuộc nhóm 2”; ai có trách nhiệm công bố hợp quy, người sản xuất hay người nhập khẩu có trách nhiệm công bố hợp quy cho từng lô hàng?

“Quản lý an toàn thực phẩm có được điều chỉnh bởi Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá hay không? Đây là vấn đề giúp tháo gỡ rất nhiều vướng mắc khác”, ông Phạm Thanh Bình nói.

Ví dụ, cùng là nguyên liệu, vật tư nhập về để sản xuất, nhưng theo Nghị định 15/2018 quy định miễn công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước cho cả trường hợp nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu và sản xuất tiêu thụ nội địa; trong khi Nghị định 74/2018 không miễn công bố hợp quy và chỉ miễn kiểm tra chất lượng cho trường hợp nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hoá xuất khẩu. 

Trong khi đó, theo ông Bình, Chính phủ đã coi Nghị định 15 là một trường hợp điển hình tích cực, cần được nhân rộng, nhưng Nghị định 74 về chất lượng sản phẩm hàng hóa lại không đi theo hướng đó.

Để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện Nghị quyết 19, các chuyên gia cho rằng, cần sớm thực hiện thành việc giảm 50% các mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành, tăng cường kết nối kịp thời và hiệu quả giữa các cơ quan quản lý, nâng cao mức độ công nhận kết quả kiểm tra giữa các đơn vị chức năng, khuyến khích cơ chế hợp tác và phản biện từ phía doanh nghiệp và cộng đồng; chia sẻ thông tin, rà soát tình hình, phân tích, tổng hợp thực tế và báo cáo, đề xuất sửa đổi, bãi bỏ những quy định, quy trình bất hợp lý...

Thành Đạt