(Chinhphu.vn) – Đại diện cộng đồng doanh nghiệp đặt câu hỏi về tính hợp lý, tính cần thiết của các quy định như doanh nghiệp tư vấn việc làm phải nộp số tiền ký quỹ 300 triệu đồng, thành lập trường cao đẳng nghề phải có ít nhất 100 tỷ đồng...
Ảnh minh họa

Hơn thế nữa, đại diện cộng đồng doanh nghiệp cũng cho rằng không cần thiết phải coi ngành nghề tư vấn, giới thiệu việc làm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Quan điểm được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra khi góp ý dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Trong đó, một trong những nội dung đáng chú ý là về điều kiện kinh doanh dịch vụ việc làm (Nghị định 52/2014/NĐ-CP).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Bộ luật Lao động thì “Tổ chức dịch vụ việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Theo VCCI, “dịch vụ việc làm” là hoạt động có tính chất cung cấp dịch vụ cho người lao động, người sử dụng lao động. Nói cách khác, đây bản chất là dịch vụ môi giới việc làm, một quan hệ “tư” thuần túy giữa người cung ứng dịch vụ việc làm – người lao động; người cung ứng dịch vụ việc làm – người sử dụng lao động.

Trong đó, trường hợp cung ứng dịch vụ cho người sử dụng lao động có hoạt động kinh doanh ngầm, trái pháp luật, sử dụng lao động không tuân thủ các quy định của pháp luật lao động…, có thể khiến người lao động bị thiệt hại. Mặc dù vậy, trong những trường hợp như thế này, nguyên nhân chính là ở cơ sở sử dụng lao động chứ không phải ở đơn vị cung ứng dịch vụ việc làm.

Như vậy, trong tổng thể, có thể thấy mức độ tác động của hoạt động này tới các lợi ích công cộng có thể có nhưng không đến mức buộc Nhà nước phải kiểm soát bằng điều kiện kinh doanh. Đó là chưa kể tới những lợi ích mà dịch vụ này mang lại cho thị trường lao động.

 

Vì vậy, VCCI đề nghị không nên xếp dịch vụ việc làm vào nhóm các ngành nghề kinh doanh có điều kiện mà chỉ nên coi đây là ngành nghề kinh doanh thông thường.

Can thiệp quá sâu

VCCI cũng cho rằng các điều kiện kinh doanh hiện hành trong lĩnh vực này còn nhiều điểm bất hợp lý.

Theo Điều 8 Nghị định 52 thì “Địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh của doanh nghiệp phải ổn định và có thời hạn từ 03 năm (36 tháng) trở lên; nếu là nhà thuộc sở hữu của người đứng tên đăng ký doanh nghiệp thì trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải có giấy tờ hợp lệ, nếu là nhà thuê thì phải có hợp đồng thuê nhà có thời hạn thuê từ 03 năm (36 tháng) trở lên”.

Quy định này suy đoán là có thể giúp cho các đối tác của doanh nghiệp dịch vụ việc làm có thể xác định được trụ sở làm việc, tạo niềm tin trong các giao dịch. Tuy nhiên, VCCI nhận định, quy định này can thiệp quá sâu vào quan hệ thỏa thuận hợp đồng giữa các chủ thể dân sự.

Về nhân lực, theo Điều 9 Nghị định 52 thì “bộ máy chuyên trách để thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm bao gồm ít nhất 03 nhân viên có trình độ cao đẳng trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, lý lịch rõ ràng”. VCCI cho rằng quy định này là bất hợp lý bởi không có tính đặc thù và không rõ mục tiêu.

Đáng chú ý, theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 52 thì “Doanh nghiệp phải nộp tiền ký quỹ là 300.000.000 đồng tại ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch chính”.

Theo VCCI, việc yêu cầu doanh nghiệp phải ký quỹ một khoản tiền trong suốt quá trình hoạt động sẽ tạo khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp. Xét về phương diện kinh tế thì để một khoản tiền đóng băng, không được sử dụng kinh doanh là không hợp lý.

Về mục đích của việc ký quỹ, theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 52/2014/NĐ-CP thì “Tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết các rủi ro và các khoản phải đền bù có thể xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp”. Như vậy, quy định tiền ký quỹ suy đoán là nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể chịu thiệt hại trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.

Mặc dù vậy, như phân tích ở trên, các chủ thể trong mối quan hệ với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ việc làm có thể bảo vệ quyền lợi của mình trên cơ sở hệ thống pháp luật tư. Hơn nữa, hoạt động này hoàn toàn không gây ra thiệt hại trên diện rộng cho nhiều chủ thể (kiểu như Ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính…). Do đó, mục tiêu này là không cần thiết.

Kiến nghị bỏ quy định mở cao đằng nghề phải có 100 tỷ đồng

Cũng liên quan tới điều kiện tài chính, VCCI kiến nghị bỏ điều kiện về vốn khi thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp (Nghị định 143/2016/NĐ-CP).

Khoản 4 Điều 3 Nghị định 143 quy định: “Vốn đầu tư thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn hợp pháp, không bao gồm giá trị về đất đai, cụ thể như sau: a) Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp tối thiểu là 05 tỷ đồng; b) Đối với trường trung cấp tối thiểu là 50 tỷ đồng; c) Đối với trường cao đẳng tối thiểu là 100 tỷ đồng.”

VCCI đề nghị ban soạn thảo sửa đổi theo hướng bỏ điều kiện về vốn, bởi vì đây là yêu cầu tự thân của doanh nghiệp. Trong hoạt động giáo dục, các điều kiện về vốn tương tự cũng đã được đề nghị bãi bỏ.

Khoản 5 Điều 3 quy định điều kiện: “Đáp ứng các điều kiện đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Điều 14 Nghị định này (dự kiến về cơ cấu tổ chức; cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; chương trình, giáo trình đào tạo; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý).”  

Theo VCCI, nếu đã quy định đây là các điều kiện để bảo đảm việc hoạt động thì chỉ đến khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động mới phải đáp ứng. Do đó, để bảo đảm tính hợp lý của quy định đề nghị Ban soạn thảo bỏ điều kiện này.

Về điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp (Nghị định 49/2018/NĐ-CP), VCCI đề nghị bỏ điều kiện “Có trụ sở hoạt động ổn định và điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của tổ chức kiểm định; có đủ phòng làm việc cho kiểm định viên với diện tích tối thiểu là 8m2/người, có đủ trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp” (khoản 2 Điều 4).

“Lý do, điều kiện này can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ hoạt động của doanh nghiệp và hoàn toàn không có tính đặc thù đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục Tại sao đối với kiểm định chất lượng giáo dục phải có điều kiện này? Nếu không đáp ứng điều kiện này thì liệu có ảnh hưởng gì tới chất lượng kiểm định không?”, VCCI phân tích.

Thành Đạt