(Chinhphu.vn) – Tại cuộc họp sáng 19/8 của Thường trực Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất bãi bỏ 43 ngành nghề cấm kinh doanh và 56 ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, về Danh mục ngành, nghề cấm  đầu tư, kinh doanh, qua rà soát cho thấy hiện có 51 ngành, nghề, hàng hóa, dịch vụ cấm đầu tư, kinh doanh và Bộ đã đề xuất Danh mục chỉ còn 8 ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh.

Danh mục 8 ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh đề xuất, gồm: Kinh doanh vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; kinh doanh chất ma túy; sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, tiêu dùng và xuất khẩu hóa chất Bảng 1; kinh doanh các loại pháo; kinh doanh, tổ chức mại dâm, buôn bán người; kinh doanh thực vật, động vật hoang dã, quý hiếm, gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến; thử nghiệm sinh sản vô tính trên người; và sản xuất các sản phẩm biến đổi gen.

Về Danh mục lĩnh vực, ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện, kết quả rà soát cho thấy toàn bộ ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh được quy định tại 391 văn bản pháp luật (gồm 56 Luật, 8 Pháp lệnh, 115 Nghị định, 176 Thông tư, 26 Quyết định của Bộ trưởng và 2 văn bản của Bộ) với 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý nhà nước của 16 Bộ, ngành.

Kết quả rà soát sơ bộ cho thấy có khoảng 15% ngành, nghề kinh doanh có điều kiện có thể bãi bỏ (bãi bỏ 56/386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện).

Với 386 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thì có tới 895 điều kiện kinh doanh “cấp 1” (giấy phép “cha”); 2129 điều kiện “cấp 2” (giấy phép “con”) và 1745 điều kiện “cấp 3” (giấy phép “cháu”).

Các điều kiện kinh doanh thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức, cụ thể: Có 110 ngành, nghề yêu cầu yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh; 83 ngành, nghề yêu cầu có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận; 44 loại ngành, nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề; 11 ngành, nghề yêu cầu xác nhận vốn pháp định; 345 ngành, nghề yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo đánh giá thì Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh hiện hành chưa được xác định, tập hợp và công khai hóa; nhiều quy định về điều kiện kinh doanh đã lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn hoặc không cần thiết cho mục tiêu quản lý nhà nước, từ đó gây ra các rào cản gia nhập thị trường, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư, kinh doanh; nhiều điều kiện kinh doanh không được quy định cụ thể và thiếu minh bạch về trình tự, hồ sơ, thủ tục hoặc điều kiện, thủ tục không rõ ràng gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh đồng thời tạo ra sự tùy tiện, tiêu cực của cơ quan quản lý nhà nước.

Không được áp đặt một phương thức tổ chức kinh doanh

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất xây dựng Danh mục ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện  áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, đồng thời hoàn thiện quy định về vấn đề này trong Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi theo hướng:

Chính phủ công bố Danh mục ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và  điều kiện đầu tư, kinh doanh tương ứng trước khi Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Đầu tư (sửa đổi) có hiệu lực thi hành.

Chỉ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ có thẩm quyền ban hành quy định xác định ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư, kinh doanh.

Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện chỉ coi là hợp pháp nếu tên ngành, nghề đầu tư, kinh doanh đó và các điều kiện đầu tư, kinh doanh đối với ngành, nghề đó được quy định tại cùng một văn bản quy phạm pháp luật, pháp lệnh hoặc nghị định và nếu không được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đều không có hiệu lực thi hành.

Các điều kiện kinh doanh đối với từng ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phải đảm bảo các yêu cầu: Nội dung các điều kiện kinh doanh chỉ nhằm hạn chế, ngăn ngừa các nguy cơ phát sinh từ các ngành, nghề kinh doanh mà không thể hạn chế hay ngăn ngừa được bằng các giải pháp của thị trường; phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện và tiên liệu được; phù hợp với thông lệ quốc tế tốt và không trái với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; không được áp đặt một phương thức tổ chức kinh doanh, không áp đặt mức sàn hoặc trần đối với sản lượng sản xuất, cung ứng và tiêu dùng, không hạn chế quyền tự do hợp đồng và tự do thỏa thuận giá cả của doanh nghiệp.

Hà Chính