(Chinhphu.vn) – Cùng một yêu cầu kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT lại đưa ra các biểu mẫu khác nhau.

Đây chỉ là một trong số rất nhiều bất cập cụ thể trong công tác kiểm tra chuyên ngành để thông quan giải phóng hàng hóa, được chỉ ra tại một hội thảo ngày 25/9 tại TP Hồ Chí Minh.

Kiểm tra hàng hóa XK tại cửa khẩu Hoa Lư, tỉnh Bình Phước.

Nhằm triển khai Nghị quyết 19 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hội thảo do Dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kì (USAID GIG) phối hợp với  Viện Nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) và Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP Hồ Chí Minh (ITPC) tổ chức.

Theo công bố về kết quả đo thời gian giải phóng hàng của Tổng cục Hải quan năm 2013, thời gian từ khi đăng kí tờ khai đến khi cơ quan Hải quan ra quyết định thông quan giải phóng hàng chỉ khoảng chiếm 28% tổng số thời gian (115 giờ) từ khi hàng đến cảng/cửa khẩu đến khi hàng có quyết định thông quan/giải phóng hàng rời khỏi khu vực giám sát hải quan. 72% thời gian còn lại là của các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động XNK.

Kiểm tra nhiều nhưng kết quả ít

Bà Đặng Bình An, chuyên gia tư vấn của USAID GIG cho biết, kết quả khảo sát tại một số doanh nghiệp (DN) và cơ quan kiểm tra chuyên ngành tại 6 tỉnh, thành cho thấy, chính sách, thủ tục kiểm tra chuyên ngành còn nhiều bất cập.

Cụ thể, danh mục quản lí chuyên ngành đối với hàng hóa XNK quá nhiều và chưa quy định rõ; nhiều mặt hàng thuộc danh mục chưa ban hành quy chuẩn nên không có căn cứ để kiểm tra; cùng một mặt hàng nhưng có nhiều bộ quản lí.

Ví dụ, cùng một yêu cầu kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT lại đưa ra các biểu mẫu khác. Mỗi bộ quy định và thực hiện khác nhau về tiêu chí kiểm tra và quản lí các mặt hàng.

Bên cạnh đó, hồ sơ kiểm tra chuyên ngành quy định tại văn bản pháp quy quá nhiều và không cần thiết. Ngoài ra, tuy kiểm tra nhiều nhưng kết quả kiểm tra chuyên ngành lại thấp, số lượng hàng hóa không đạt yêu cầu rất nhỏ, chỉ khoảng từ 0,5 đến 1% hoặc có những DN chưa bao giờ kết quả kiểm tra không đạt yêu cầu.

Từ góc độ DN, đại diện Công ty Minh Phước cho rằng, quản lí chuyên ngành đối với nhiều mặt hàng XNK còn bị vướng do quá nhiều quy định về quản lí chuyên ngành, đơn cử như việc đăng kí kiểm tra hóa chất cũng mất từ 5 đến 7 ngày trong khi đã có danh mục sẵn. Sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm định còn lỏng lẻo làm phát sinh thêm nhiều thủ tục. Việc thực hiện các quy định giữa các đơn vị trong cùng một ngành còn chưa thống nhất gây khó khăn cho DN.

Cần giảm thiểu các loại hàng hóa cần kiểm tra

Theo khuyến nghị của các chuyên gia, để đơn giản hóa thủ tục quản lí chuyên ngành đối với hàng hóa XNK, các bộ ngành cần rà soát lại danh mục hàng hóa cần kiểm tra chuyên ngành để giảm tới mức tối thiểu các loại hàng hóa cần kiểm tra từ khoảng 60-70% còn khoảng 30%.

Bên cạnh đó, các bộ cần đưa ra quy chế quản lí danh mục theo nguyên tắc quản lí rủi ro chia theo đối tượng DN, có trọng tâm, trọng điểm để tạo thuận lợi cho DN. Đồng thời, xây dựng và công bố các danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành (kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm dịch) kèm mã số HS thống nhất với mã số thuộc danh mục hàng hóa XK, NK.

Đặc biệt, cần quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc xác định mặt hàng và cách thức quản lí, kiểm tra chuyên ngành, tránh chồng chéo và đùn đẩy trách nhiệm. Lựa chọn những mặt hàng phù hợp để thực hiện kiểm tra chất lượng sau khi làm thủ tục XNK để giảm bớt lượng hàng hóa cần kiểm tra trong quá trình XNK. Cần kết nối thông tin giữa các bộ, ngành, đơn vị cung ứng dịch vụ và cơ quan Hải quan để quản lí thống nhất chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho DN.

Những kiến nghị cụ thể

Theo đại diện một DN NK thực phẩm chức năng, DN này NK các sản phẩm thực phẩm chức năng từ Nhật Bản đã công bố hợp quy và đã được Trung tâm 3 kiểm tra và cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên theo quy định, cứ mỗi 6 tháng DN lại phải đem sản phẩm đi phân tích, điều này làm phát sinh một khoản chi phí lớn cho DN.

Bà Nguyễn Hằng Phương, Phó trưởng phòng cấp phép, Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế cho biết, quy định phân tích định kì mỗi 6 tháng/ lần đối với sản phẩm thực phẩm có hạn dùng 3 năm và 1 năm/lần đối với sản phẩm có hạn dùng 5 năm là để kiểm tra hàng lưu thông trên thị trường có đảm bảo chất lượng không. Tuy nhiên, ghi nhận ý kiến DN về việc có thể dùng phiếu kiểm tra khi nhập về làm căn cứ để DN không phải kiểm tra định kì.

Liên quan đến kiểm tra chuyên ngành, đại diện Hội Dinh dưỡng Việt Nam cho rằng, có cần thiết phải kiểm dịch thực phẩm NK khi hàng hóa NK đã được kiểm tra qua máy soi vì Tia X và tia Gama trong máy soi đã được chứng minh có khả năng phát hiện dịch bệnh trong thực phẩm.

Trả lời vấn đề này, ông Ngô Minh Hải, Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lí, Tổng cục Hải quan cho biết, theo quy định của Bộ NN&PTNT có một số  mặt hàng phải kiểm dịch ngay tại cửa khẩu. Do vậy, cơ quan Hải quan phải yêu cầu DN thực hiện kiểm dịch. Mặt khác, máy soi ở cửa khẩu để kiểm tra việc khai báo hàng hóa của DN chứ không có chức năng kiểm dịch đối với hàng hóa NK.

Đại diện một DN NK hóa chất cũng kiến nghị các cơ quan kiểm tra chất lượng tại cửa khẩu nên rút ngắn thời gian từ 7 đến 10 ngày xuống từ 4 đến 6 ngày để tiết kiệm thời gian và chi phí cho DN.

Trả lời kiến nghị, ông Hoàng Lâm, Giám đốc Trung tâm Kĩ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 cho biết, cơ quan kiểm tra có thể căn cứ lịch sử lô hàng đã kiểm tra nhiều lần sẽ kiểm tra nhanh cho DN. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp phải chờ DN hoàn thiện thủ tục cũng rất mất thời gian. Do vậy, nếu có thể, DN nên kiểm tra mẫu trước khi NK  hàng để khi về hàng về cửa khẩu không mất nhiều thời gian chờ đợi kết quả kiểm tra….

Theo Báo Hải quan

* Tiêu đề do tòa soạn đặt