(Chinhphu.vn) - Để tăng cường hiệu quả khai thác, sử dụng cũng như bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, thuế suất với nhiều loại tài nguyên sẽ được điều chỉnh tăng, theo một dự thảo Nghị quyết vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận sáng 10/12.

Toàn cảnh phiên làm việc. Ảnh: VGP/Xuân Tuyến

Sáng nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 về việc ban hành biểu thuế suất thuế tài nguyên.

Tờ trình của Chính phủ nêu rõ, thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của tổ chức, cá nhân. Thuế suất thuế tài nguyên thể hiện mức độ điều tiết của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên.

Mức thuế suất thuế tài nguyên hiện đang được quy định mức thuế suất cụ thể cho từng loại tài nguyên trên cơ sở biểu khung thuế suất do Quốc hội quy định tại Luật Thuế tài nguyên.

Tuy nhiên, hiện mức thuế suất thuế tài nguyên còn hạn chế trong việc góp phần bảo vệ, khai thác hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế; đồng thời chưa bảo đảm phù hợp với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển rừng.

Qua thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất, điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên đối với nhóm khoáng sản kim loại, nhóm khoáng sản không kim loại và nhóm nước thiên nhiên theo như Tờ trình của Chính phủ.

Cụ thể, đối với nhóm khoáng sản kim loại, từ ngày 1/1/2016, mangan tăng từ 11% lên 14% (mức trần theo Luật là 20%); chì, kẽm tăng từ 10% lên 15% (mức trần theo Luật là 25%); khoáng sản kim loại khác (bao gồm cả cobalt, molypden, thủy ngân, magiê, vanadi) tăng từ 10% lên 15% (mức trần theo Luật là 25%).

Từ ngày 1/1/2017, sắt tăng từ 12% lên 14% (mức trần theo Luật là 20%); titan tăng từ 16% lên 18% (mức trần theo Luật là 20%); vàng tăng từ 15% lên 17% (mức trần theo Luật là 25%); wolfram, antimoan tăng từ 18% lên 20% (mức trần theo Luật là 25%); đồng tăng từ 13% lên 15% (mức trần theo Luật là 25%); bạch kim, bạc, thiếc tăng từ 10% lên 12% (mức trần theo Luật là 25%).

Với mức thuế suất dự kiến như trên, với sản lượng, giá tính thuế như năm 2014, số thu thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại tăng 125 tỉ đồng so với năm 2014 (trong đó, từ ngày 1/1/2016 tăng 26,1 tỉ đồng; từ ngày 1/1/2017 tăng thêm 98,9 tỉ đồng).

Đối với nhóm khoáng sản không kim loại: Từ ngày 1/1/2016, cát tăng từ 11% lên mức trần 15%; cát làm thủy tinh tăng từ 13% lên mức trần 15%; granite tăng từ 10% lên 15% (mức trần theo Luật là 20%); các khoáng sản không kim loại còn lại, trừ đá hoa trắng, than (gồm đất khai thác để san lấp và xây dựng công trình; đá, sỏi; đá nung vôi và sản xuất xi măng; sét chịu lửa; dolomite, quartzite; cao lanh; mica, thạch anh kỹ thuật; apatit...): tăng thêm 3%.

Riêng kim cương, rubi, sapphire tăng từ 22% lên 27% (mức trần theo Luật là 30%); emerald, alexandrite, opan quý màu đen tăng từ 20% lên 25% (mức trần theo Luật là 30%) do là loại khoáng sản quý hiếm; khoáng sản không kim loại khác tăng từ 5% lên 10% (mức trần theo Luật là 25%).

Từ ngày 1/1/2017, đá hoa trắng tăng từ 9% lên mức trần 15%; than tăng từ 7% lên 10% đối với than antraxit hầm lò và than khác; tăng từ 9% lên 12% đối với than antraxit lộ thiên, than nâu, than mỡ (mức trần theo Luật đối với than là 20%).

Với mức thuế suất dự kiến điều chỉnh, số thu thuế tài nguyên đối với nhóm khoáng sản không kim loại tăng khoảng 2.171,6 tỉ đồng so với số thu năm 2014 (trong đó từ ngày 1/1/2016 tăng khoảng 684,7 tỉ đồng; từ ngày 1/1/2017 tăng thêm khoảng 1.486,9 tỉ đồng).

Để bảo vệ nguồn tài nguyên nước, khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, tăng mức thuế suất đối với nhóm nước thiên nhiên. Cụ thể, nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp tăng từ mức sàn 8% lên mức trần 10%. Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện tăng từ 4% lên mức trần 5%...

Với mức thuế suất dự kiến điều chỉnh, số thu thuế tài nguyên đối với nhóm nước thiên nhiên khoảng 4.352,7 tỉ đồng, tăng 887,7 tỉ đồng so với số thu năm 2014 (trong đó số thu từ nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện tăng 775,1 tỉ đồng).

Thời gian còn lại của phiên làm việc buổi sáng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với tổ chức thuế, tổ chức hải quan giai đoạn 2016-2020.

Xuân Tuyến