(Chinhphu.vn) - Mặc dù DN bán hàng không nhận được tiền từ DN mua, nhưng vẫn phải nộp thuế GTGT 10% và thuế TNDN trên số lợi nhuận đã ghi doanh thu. Điều này khiến DN bán hàng thiệt hại khi vừa phải nộp thuế vừa bị nợ xấu, trong khi đó, DN mua không trả tiền nhưng lại được hoàn thuế.

Theo phản ánh của ông Nguyễn Văn An (Hà Nội), doanh nghiệp B ký hợp đồng cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp A, công việc đã thực hiện cơ bản xong, doanh nghiệp B xuất hóa đơn GTGT cho doanh nghiệp A để thanh toán tiền. Doanh nghiệp A dùng hóa đơn GTGT để hoàn thuế nhưng không trả tiền cho doanh nghiệp B. Tuy nhiên, cơ quan thuế không cần biết doanh nghiệp B có nhận được tiền do doanh nghiệp A trả hay không vẫn yêu cầu doanh nghiệp B phải đưa số tiền này vào để tính doanh thu.

Như vậy, mặc dù doanh nghiệp B không nhận được tiền từ doanh nghiệp A, nhưng vẫn phải nộp thuế GTGT 10% và thuế thu nhập doanh nghiệp trên số lợi nhuận đã ghi doanh thu. Điều này khiến doanh nghiệp B thiệt hại khi vừa phải nộp thuế vừa bị nợ xấu. Trong khi đó, doanh nghiệp A không trả tiền nhưng lại được hoàn thuế.

Qua Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp trên Cổng TTĐT Chính phủ, ông An kiến nghị Bộ Tài chính xem xét lại vấn đề nêu trên và chỉ nên yêu cầu ghi doanh thu khi tiền đã về doanh nghiệp chứ không phải tại thời điểm doanh nghiệp phát hành hóa đơn GTGT.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính trả lời như sau:

Khoản 2, Điều 9 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT quy định điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 1/10/2014) như sau:

"a) Có hóa đơn GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hóa ở khâu nhập khẩu, chứng từ nộp thuế GTGT đối với trường hợp mua dịch vụ quy định tại Khoản 2, Điều 2 Nghị định này.

b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng.

Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra cũng được coi là thanh toán không dùng tiền mặt".

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP về thời điểm xác định thuế GTGT: “1. Thời điểm xác định thuế GTGT đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

2. Thời điểm xác định thuế GTGT đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền…”.

Khoản 2, Điều 8 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định: “Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa bán ra là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.

Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ...".

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp B ký hợp đồng cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp A thì thời điểm doanh nghiệp B xác định thuế GTGT, xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời điểm doanh nghiệp B hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp A hoặc thời điểm doanh nghiệp B lập hóa đơn cho doanh nghiệp A không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

Điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, doanh nghiệp A phải có hóa đơn GTGT của dịch vụ mua vào, có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng.

Việc ký hợp đồng cung cấp dịch vụ, tổng giá trị hợp đồng, điều kiện thanh toán hợp đồng là sự thỏa thuận dân sự giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp B.

Do ông Nguyễn Văn An không nêu cụ thể trường hợp vướng mắc của doanh nghiệp nào, nên đề nghị ông An có văn bản nêu rõ tên doanh nghiệp, địa chỉ, mã số thuế của doanh nghiệp gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp doanh nghiệp để thực hiện kê khai khấu trừ, hoàn thuế của doanh nghiệp theo đúng quy định.

Chinhphu.vn

Từ khóa: thuế , dịch vụ , doanh thu