(Chinhphu.vn) - Một trong các trách nhiệm của tổ chuyên gia là đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất theo đúng yêu cầu. Theo đó, khi đánh giá hồ sơ đề xuất phải tiến hành thành lập tổ chuyên gia.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn bản giải đáp một số thắc mắc liên quan đến quy định về lập tổ chuyên gia, đánh giá hồ sơ dự thầu, biện pháp bảo đảm dự thầu…

Ông Nguyễn Xuân Sáng (Hà Nội): Xin hỏi, đối với gói thầu chào hàng cạnh tranh (xây lắp, hàng hóa) đã thành lập Ban quản lý dự án có năng lực đánh giá hồ sơ đề xuất thì có nhất thiết phải thành lập Tổ chuyên gia đánh giá hồ sơ đề xuất không? Hiện, báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất hình thức này áp dụng theo Mẫu số 1 Thông tư số 23/2015/TT-BKHĐT hay có văn bản nào khác không?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời: Khoản 2, Điều 76 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định, một trong các trách nhiệm của tổ chuyên gia là đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất theo đúng yêu cầu.

Theo đó, khi đánh giá hồ sơ đề xuất phải tiến hành thành lập tổ chuyên gia. Việc lập báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 23/2015/TT-BKHĐT ngày 21/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Xác định tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu

Ông Hà Ngọc Thạch (Cần Thơ): Trong quá trình đấu thầu một công trình xây dựng xảy ra tình huống, trước thời điểm đóng thầu có 3 nhà thầu nộp hồ sơ, trong đó có 2 nhà thầu có thư bảo lãnh dự thầu của ngân hàng, nhà thầu còn lại thông báo có thư bảo lãnh trong hồ sơ.

Tuy nhiên, khi tiến hành mở thầu thì phát hiện nhà thầu này không có thư bảo lãnh. Vậy xin hỏi, hồ sơ của nhà thầu này có bị loại không hay vẫn được đánh giá? Nếu bị loại ngay thì khi đó thì chỉ còn 2 nhà thầu hợp lệ thì có được phép đánh giá tiếp không hay tiến hành đấu thầu lại?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời: Quy trình lựa chọn nhà thầu được thực hiện theo quy định tại Điều 11 và Điều 21 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, sau khi mở thầu, bên mời thầu phải tiến hành đánh giá hồ sơ dự thầu của nhà thầu.

Trường hợp nhà thầu tham dự thầu không thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu sẽ bị đánh giá là không đáp ứng tính hợp lệ theo quy định tại Điểm d, Khoản 2, Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.

Ông Vũ Trung Thành (Nam Định): Dự án A được phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu có 6 gói thầu trong đó có gói tư vấn kiểm toán. Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với gói tư vấn kiểm toán có ghi thời gian thực hiện là “trong thời gian thực hiện dự án”. Thời gian thực hiện dự án được phê duyệt là 24 tháng. Có 4 nhà thầu (A, B, C, D) tham gia đấu thầu gói thầu này. Đơn dự thầu của nhà thầu A có ghi thời gian thực hiện là “trong thời gian thực hiện dự án tuy nhiên tổng cộng không quá 3 tháng”. Ba nhà thầu còn lại trong đơn dự thầu ghi thời gian thực hiện lần lượt là 3 tháng, 90 ngày và 2,5 tháng. Tôi xin hỏi, thời gian ghi trong đơn dự thầu như nêu trên có hợp lý không?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời: Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 38 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ, việc kiểm tra và đánh giá về tính hợp lệ của hồ sơ đề xuất về kỹ thuật thực hiện theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 28 của Nghị định này, trừ nội dung kiểm tra và đánh giá tính hợp lệ của bảo đảm dự thầu.

Theo đó, trường hợp tiến độ thực hiện gói thầu ghi trong đơn dự thầu phù hợp với đề xuất kỹ thuật của nhà thầu và yêu cầu của hồ sơ mời thầu thì đơn dự thầu của nhà thầu được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về tiến độ theo quy định nêu trên.

Chinhphu.vn

Từ khóa: Đấu thầu , hồ sơ dự thầu , bảo đảm dự thầu , tổ chuyên gia